Hôm nay thứ 4. Ngày 26/11/2014 RSS

Văn bản mới


TIN NỔI BẬT

Mẫu hồ sơ học sinh
Thời khóa biểu thực hiền từ ngày 23/9/2013
Hướng dẫn thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra năm học 2013-2014
Hội nghị chi bộ đầu năm
Tiến tới hội nghị công chức năm học 2013-2014
Chi bộ trường THPT Bình sơn làm tốt công tác phát triển Đảng
Thời khóa biểu thực hiện từ ngày 19/8/2013
Hội nghị nghị nghiệm thu đề tài nghiên cứu và sáng kiến kinh nghiệm trường THPT Bình Sơn, năm học 2012-2013
Lễ bế giảng năm học 2012–2013 ở trường Bình Sơn
Kết quả thi khảo sát lớp 10,11 theo mẫu ngẫu nhiên năm học 2012-2013

Trang: 1/40

|<
1
2
3
>|

VIDEO CLIPS

  

LƯỢT TRUY CẬP

Online : 6
Hôm nay : 31
Hôm qua : 178
Tuần này : 350
Tháng này : 4827


Hội thảo dạy-học Ngữ văn Trường Bình Sơn

(Ngày 25/01/2013 - 01:13:04)

Để tiết kiệm thời gian công sức,vừa qua trường THPT Bình sơn tổ chức hội thảo qua mạng nội dung : “ đánh giá thực trạng dạy-học môn ngữ văn THPT- ban cơ bản “ . Chúng tôi trích đăng ý kiến thống nhất cả nhóm sau hội thảo và sẽ lần lượt trích đăng ý kiến từng giáo viên .Rất mong nhận được ý kiến thảo luận của các đồng nghiệp nếu các bạn quan tâm .Bài thảo luận xin gửi về cho chúng tôi theo email ở cuối bài  này. 

Đánh giá thực trạng dạy-học môn Ngữ văn THPT- ban cơ bản    

Nhóm GV Ngữ văn-THPT Bình sơn     

                                                                       MỞ ĐẦU

              Bậc học THPT được quy định trong Luật giáo dục với thời lượng 3 năm.Trong mỗi năm học , học sinh học 13 môn cơ bản  với khung chương trình được quy định sẵn. Từ năm học 2006-2007, việc thực hiện chương trình, sách giáo khoa mới  bắt đầu được áp dụng . Bộ sách giáo khoa dành cho chương trình THPT gồm có sách cho ban Khoa học tự nhiên, sách cho ban Khoa học xã hội và sách dành cho ban Cơ bản.

              Môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông là môn học quan trọng, có số lượng tiết học trên tuần lớn. Điều mà chúng tôi trăn trở là  trong bộ sách giáo khoa ban cơ bản môn Ngữ văn  vẫn còn có  những điểm hạn chế, bất cập và phương pháp dạy học Ngữ văn còn nhiều điều đáng phải bàn...Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, chúng tôi viết tiểu luận này với ý tưởng góp một tiếng nói để hoàn thiện hơn chương trình Ngữ văn THPT và đổi mới phương pháp dạy học. 

 NỘI DUNG 

I. Về chương trình môn Ngữ văn THPT (ban cơ bản)

Chương trình Ngữ văn bậc THPT ban cơ bản gồm có 333 tiết trong đó:

Chương trình chính khóa:

STT

Tổng số tiết

Số tiết / KI

(18 tuần)

Số tiết / KII

(17 tuần)

Cách thiết kế

Lớp 10

105

3

3

Chương trình khung

Lớp 11

123

4

3

Chương trình khung

Lớp 12

105

3

3

Chương trình khung

           Chương trình chính khóa được thiết kế  thành chương trình khung (Cụ thể đến số bài, số tiết dạy/bài..). Giáo viên thực hiện hoạt động giảng dạy theo đúng chương trình khung đã được biên soạn.

  Chương trình tự chọn:35 tiết

STT

Tổng số tiết

Số tiết     /tuần KI

Số tiết /tuần KII

Cách thiết kế

Lớp 10

35

18

17

Khung chương trình

Lớp 11

35

18

17

Khung chương trình

Lớp 12

35

18

17

Khung chương trình

 - Chương trình tự chọn chỉ có khung chương trình. Trong các môn tự chọn có môn Văn và môn Toán). Như vậy môn Ngữ văn trong  trường THPT có 35 tiết tự chọn/năm. Căn cứ vào khung chương trình, mỗi cơ sở giáo dục hoặc tổ nhóm chuyên môn tự thiết kế nội dung giảng dạy.

Chương trình chính khóa được thiết kế bởi các phân môn sau:

Khối

Nội dung kiến thức

Tổng số tiết

Ghi chú

Đọc văn

Tiếng Việt

Làm văn

Lí luận văn học

10

52

18

35

0

105

 

11

65

20

38

0

123

 

12

52

15

34

4

105

 

Tổng

169

53

107

4

333

 

          Theo cấu trúc chương trình, ở từng phân môn ta thấy chương trình được bố trí các đơn vị kiến thức như sau:

Kiến thức Đọc văn

Khối lớp - Đơn vị kiến thức

Ghi chú

10

11

12

 

Văn học dân gian

Văn học trung đại đầu thế kỷ XX

Văn học hiện đại từ 1945 đến 1975

 

Văn học trung đại (Thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX)

Văn học hiện đại đầu thế kỷ XX đến 1945

 

 

Văn học cổ đại, trung đại  nước ngoài(Trung Quốc, Nhật, Hi lạp,Ấn độ)

Văn học hiện thực và lãng mạn phương Tây (Anh,Nga,Ấn độ,Đức)

Văn học hiện đại thế kỷ XX (Nga, Mĩ, Trung Quốc..)

 

Kiến thức Làm văn

Khối lớp - Đơn vị kiến thức

Ghi chú

10

11

12

 

Văn tự sự

Văn nghị luận (Các thao tác nghị luận (Phân tích, so sánh, bác bỏ,bình luận

Nghị luận về tư tưởng đạo lý,đời sống

 

Văn thuyết minh

Nghị luận về bài thơ đoạn thơ

 

Văn nghị luận (Lập dàn ý,lập luận)

Nghị luận về tác phẩm văn xuôi

 

Lập kế hoạch cá nhân, quảng cáo

Viết tiểu sử tóm tắt

Phỏngvấn,viết bản tin

Kỹ năng mở kết bài

Phát biểu tự do

 

Kiến thức Tiếng Việt

Khối lớp - Đơn vị kiến thức

Ghi chú

10

11

12

 

Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ

Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân

Giữ gìn sự trong sáng của TV

 

Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt

Phong sách ngôn ngữ báo chí

Câc biện pháp tu từ ngữ âm, cú pháp

 

Một số phép tu từ

Phong cách ngôn ngữ chính luận

Phong cách ngôn ngữ hành chính

 

Lịch sử TV, yêu cầu sử dụng TV

Nghĩa của câu, các thành phần câu

Phong cách ngôn ngữ khoa học

 

Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

 

Hàm ý

 

 1.Phân tích ưu điểm của chương trình về mặt lí luận và thực tiễn

1.1. Về mặt lí luận

           - Cơ sở triết học: Xuất phát từ quan điểm của duy vật biện chứng: mọi sự vật tồn tại trong thế giới khách quan  luôn vận động phát triển không ngừng. Trong việc thiết kế chương trình dạy học cũng vậy ,mọi thành tố cấu trúc của chương trình dạy học luôn  vận động, có mối quan hệ, tác động qua lại, biện chứng với nhau, sự đổi mới trong giáo dục nói chung thường được bắt đầu và được biểu hiện rõ nét trong lĩnh vực đổi mới cả nội dung và phương pháp dạy học.

           - Cơ sở tâm lý học:Tâm lý học cho rằng nhân cách của con người được hình thành thông qua các hoạt động chủ đạo và sáng tạo, thông qua các hoạt động có ý thức. Con người chỉ bắt đầu tư duy tích cực khi đứng trước một khó khăn về nhận thức cần phải khắc phục, một tính huống có vấn đề.Chương trình Ngữ văn THPT ban cơ bản hướng tới đối tượng học sinh. Thiết kế nội dung học, môn học phát huy sự tích cực chiếm lĩnh tri thức của người học.

          - Thể hiện rõ mục tiêu giáo dục mà Luật giáo dục đã nêu ra: Đó là đào tạo con người Việt nam có tri thức, có năng lực, có thẩm mĩ, có lý tưởng,thích ứng trước các yêu cầu xã hội.

          - Sự phát triển kinh tế xã hội đòi hỏi đào tạo nguồn nhân lực có đủ điều kiện  về năng lực, kiến thức, kỹ năng. Chương trình Ngữ văn THPT đã đáp ứng được cơ bản yêu cầu của xã hội.

          - Các phân môn khoa học luôn có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Kiến thức Đọc văn, Tiếng việt, Làm văn là công cụ bổ trợ cho nhau, tạo nên tính tích tợp cao trong phân môn. Việc phân bố thời lượng tiết dạy cho môn học phù hợp, dảm bảo sự cân đối

1.2. Về mặt thực tiễn

           - Trong giai đoạn hiện nay, đặc điểm tâm sinh lý của học sinh có thay đổi mạnh mẽ, nhất là bậc THPT. Học sinh được tiếp nhận rất nhiều thông tin từ các phương tiện truyền thông. Học sinh dần không thỏa mãn với vai trò của người tiếp thu thụ động mà dần chuyển sang quá trình tiếp nhận, lĩnh hội độc lập hoặc tiếp nhận độc lập có định hướng. Chương trình Ngữ văn THPT ban cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu lĩnh hội tri thức một cách ngày càng chủ động của học sinh.

          - Môn học trong nhà trường không được xa rời cuộc sống bởi học sinh đến trường là để tiếp thu tri thức và tri thức ấy hướng đến việc hòa nhập cộng đồng.Chương trình môn Ngữ văn đã thể hiện rõ mục đích này khi chương trình ngày càng gắn bó với cuộc sống. Bên cạnh việc tìm hiểu, tiếp nhận các tác phẩm văn học, học sinh còn được học những kiến thức có tính ứng dụng cao.Trong phân môn Làm văn Ở chương trình lớp 10 có bài Lập kế hoạch cá nhân và Viết quảng cáo. Ở lớp 11 là Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn. Ở lớp 12 là Phát biểu theo chủ đề và phát biểu tự do. Phân môn Tiếng Việt chú trọng nhiều đến hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, các phong cách ngôn ngữ… kiến thức đọc văn đưa vào nhiều văn bản nhật dụng.

2. Phân tích hạn chế  của chương trình về mặt lí luận và thực tiễn

2.1. Về mặt lí luận

          - Sự đổi mới cần phải có thời gian, có sự thích ứng. Mặc dù đã có chuẩn bị nhưng cả cơ quan quản lý, người dạy, người học vẫn bị động. Thói quen giảng dạy văn theo kinh nghiệm, theo phương pháp truyền thống khiến cho quá trình đổi mới nội dung phương pháp gặp khó khăn.

          - Theo đặc điểm tâm lý , quá trình tiếp nhận kiến thức đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ chi tiết rồi cấu thành hệ thống.Tuy nhiên một số nội dung khi cấu trúc lại đi ngược quan điểm này. Điều đó thể hiện rõ nét nhất trong chương trình làm văn khi  đến cuối năm 12, HS mới học Mở bài, Kết luận, Diễn đạt ,trong khi đó học sinh bước vào bậc THPT mỗi năm phải làm 7 bài viết (2t) và nhiều bài kiểm tra khác.

          - Quá trình tiếp nhận phải có tính hệ thống, liên tục. Có như vậy mới đào sâu được kiến thức .Tuy nhiên trong chương trình THPT việc này chưa được thực hiện triệt để.Ví dụ ở THCS học sinh đã học kiến thức về nghị luận xã hội. Lớp 10,11 kiến thức này không được học, nhưng  đến lớp 12 học sinh  lại học lại kiến thức này (không bổ sung, phát triển). Như vậy kiến thức bị ngắt quãng, thiếu tính hệ thống.

2.2.Về mặt thực tiễn

-         Sự quá tải của nội dung chương trình:

+ Thời gian ít nhưng phải dạy quá nhiều nội dung:Xin đơn cử, tuần thứ tư khối 12 có 4 bài phải dạy : Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ cuả dân tộc ( 2 tiết ), Nghị luận về một hiện tượng đời sống ( 1 tiết ) còn hai bài Mấy ý nghĩ về thơ cuả Nguyễn Đình Thi và bài Đô-xtôi-epxki cuả X.Vaigơ,  dạy 1 tiết( phân phối chương trình môn Ngữ văn 12 quy định mỗi tuần chỉ có 3 tiết ) Chương trình lớp 10, có 1 tiết mà học sinh phải học 3 tác phẩm thơ trung đại(Vận nước của Đỗ Pháp Thuận; Cáo bệnh bảo mọi người của Mãn giác; Hứng trở về của Nguyễn Trung Ngạn). Đáng lưu ý là thơ trung đại mang chiều sâu tư tưởng, sáng tác theo chữ Hán, có khoảng cách rất xa về thời đại nên rất khó tiếp nhận…..

+ Kiến thức của bài giảng quá khó: bài Mấy ý nghĩ về thơ của Nguyễn Đình Thi  và Đô-xtôi-epxki của X.Vaigơ mỗi bài theo suy nghĩ của chúng tôi phải mất ít nhất 1 tiết học sinh mới có thể hiểu được những nội dung cơ bản. Vậy mà hai bài được dồn ghép trong một tiết học. Cũng vậy, giới thiệu tác gia Hồ Chí Minh chỉ dạy một tiết, bài Làm văn “Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi” mà chỉ dạy 1 tiết thì không thể giúp học sinh nắm được những kiến thức cần thiết về các vấn đề làm văn liên quan đến tác phẩm văn xuôi.

-         Sắp xếp kiến thức chưa hợp lý:

Phân môn  Làm văn, ngay từ đầu năm THPT , HS đã phải làm dàn ý, rồi làm bài viết, vậy mà đến tuần 26  lớp 12 mới học làm Mở bài, Kết luận, tuần 28,29 mới học Diễn đạt trong văn nghị luận . Lẽ ra kỹ năng  Mở bài, Kết luận, Diễn đạt , học sinh đã phải thành thục từ khi vào lớp 10. Thực ra ở lớp 8 các em đã phải làm hoàn chỉnh bài văn nghị luận tại lớp( SGK Ngữ Văn 8, tập 2, tr85). Những bài môn  Làm văn về một vấn đề tư tưởng, đạo lý ( SGK Ngữ văn 12, tập 1, tr 20 ), về một hiện tượng đời sống (SGK Ngữ văn 12, tr66) chỉ là lặp lại sơ lược bài phân môn  Làm văn ở lớp 9 , không hề có nâng cao tư duy kiến thức hay kỹ năng. Xin so sánh nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lý ( SGK Ngữ văn 9, tập 2, tr36 ), và Nghị luận về một hiện tượng đời sống (SGK Ngữ văn 12, tập 1, tr 22). Dạy Làm văn  là dạy theo kiểu bài từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp . Chẳng hạn các bài Nghị luận về một tư tưởng , đạo lý; Nghị luận về một hiện tượng xã hội, thực chất là kiểu bài trình bày. Văn Nghị luận xã hội còn nhiều kiểu bài khác, như kiểu bài Giải thích, kiểu bài Chứng minh, kiểu bài Bình luận (thí dụ xã luận ).Có sự khác biệt giữa các thao tác nghị luận và các kiểu bài nghị luận. Ở mỗi kiểu bài, chỉ dùng một số thao tác nào đó. Điều cốt yếu khi nghị luận là lập trường tư tưởng, nhưng SGK lại không nói đến.( xin xem đề : " Ôi! Sống đẹp là thế nào hỡi bạn"(SGK Ngữ văn 12 tập 1, tr 20).

Phần nghị luận Văn học, các kiểu bài cũng khác nhau ở cấp độ huy động tư duy và kiến thức và cách triển khai vấn đề,  như phân tích nhân vật, phân tích tác phẩm, phân tích trào lưu văn học, phân tích một giai đoạn văn học, lý luận văn học.., kiểu bài phân tích thơ văn khác với Bình giảng thơ văn, kiểu bài lý luận phê bình...  SGK đã không xác lập chương trình các kiểu bài để nâng năng lực tư duy và tầm kiến thức cuả HS lên, thay vào đó là một chương trình có vẻ như rất lộn xộn và pha tạp. Hơn thế,  giữa học và hành không đồng bộ. Chẳng hạn, suốt chương trình Làm văn từ lớp 10 đến 11, không hề có tiết dạy nào về kiểu bài phân tích nhân vật, phân tích tác phẩm hay " Cảm nhận về hình tượng văn học "? Nhưng đề vẫn cứ ra : “Phân tích tác phẩm hay nhân vật” " Cảm nhận cuả anh chị về hình tượng thiên nhiên và con người.." cảm nhận cuả anh chị về hình tượng người lính.."( SGK Ngữ văn 12 tập 1,tr. 133,134) .

- Cách dùng từ ngữ, đặt nhan đề chưa chính xác (hoặc chưa thống nhất). Ở chương trình lớp 12: Ngay bên cạnh bài Giữ gìn sự trong sáng cuả Tiếng Việt là một tiêu đề không chuẩn : Nghị luận về một tư tưởng , đạo lý. Nên viết là Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lý.( SGK Ngữ Văn lớp 9, tập2, tr 34 đã viết như vậy ). Trích dẫn thơ Tố Hữu mà nêu không đúng xuât xứ. Câu "Ôi! Sống đẹp là thế nào hỡi bạn " trong bài Một khúc ca xuân, không phải bài Một khúc ca ( SGK Ngữ văn 12, tập 1, tr 20).

- Nhận thức của một bộ phận giáo viên và học sinh cho rằng học ban cơ bản thì chỉ cần kiến thức cơ bản, không cần đào sâu,khơi rộng kiến thức.          

3.Giải pháp nâng cao hiệu quả của chương trình Ngữ văn THPT(Ban cơ bản)

          3.1. Thực hiện nghiêm túc chương trình khung mà Bộ giáo dục-Đào tạo ban hành. Trong việc thực hiện khung chương trình bên cạnh việc bám sát sách giáo khoa, sách giáo viên thì phải coi Chuẩn kiến thức kỹ năng môn học là yếu tố cơ bản. Khi thực hiện chương trình, tổ, nhóm chuyên môn cần bàn bạc, thống nhất các đơn vị kiến thức một cách chi tiết, hệ thống.

            3.2. Trong chương trình khung  của môn học (phân phối chương trình) có gợi mở để giáo viên có thể phát huy tính chủ động, phù hợp với thực tiễn . Cần triển khai để giáo viên nắm được nội dung này. Tránh việc áp dụng một cách máy móc, không hiệu quả. Vận dụng hiệu quả khung chương trình khi dạy học Ngữ văn THPT ban cơ bản

             3.3.Thực hiện triệt để tinh thần đổi mới trong phương pháp giảng dạy. Sử dụng linh hoạt các phương pháp trong dạy học. Đổi mới phương pháp phải bám sát mục tiêu giáo dục phổ thông, phù hợp với nội dung dạy học cụ thể, phù hợp đặc điểm lứa tuổi học sinh,phù hợp với điều kiện về cơ sở vật chất và các điều kiện dạy học, kết hợp hài hòa phương pháp hiện đại kế thừa phương pháp truyền thống. Đổi mới phương pháp giảng dạy cần thể hiện được các đặc trưng sau:

   - Phải phát huy được tính chủ động tích cực của học sinh.

   - Chú  trọng rèn luyện phương pháp và phát huy năng lực tự học của học sinh

   - Dạy học phân hóa kết hợp với hợp tác.

            3.4. Phát huy lợi thế của phương tiện dạy học

   - Tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện cho hoạt động dạy học.

   - Ứng dụng có hiệu quả thành tựu KHKT để có phương tiện dạy học hiệu quả.Việc sử dụng máy chiếu, tranh ảnh,băng đĩa…góp phần quan trọng làm nên thành công của một giờ văn

            VD: Dạy tác phẩm “Người lái đò sông Đà” “Ai đã đặt tên cho dòng sông” nếu có tư liệu ,hình ảnh về sông Đà, sông Hương thì học sinh cảm nhận sẽ tốt hơn. Học “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí minh nếu trình chiếu hình ảnh và lời Bác đọc tuyên ngôn chắc chắn học sinh sẽ có những rung cảm tích cực hơn…

             3.5. Phát huy hiệu quả việc dạy tự chọn để khắc phục việc kiến thức quá nặng trong chương trình chính khóa hoặc việc sắp xếp các đơn vị kiến thức chưa hợp lý trong các nội dung sau:

   - Sử dụng thời gian dạy tự chọn để điều chỉnh, sắp xếp những đơn vị kiến thức chưa hệ thống ( như đã phân tích ở phần trên)

  + Dạy kỹ năng nhận diện đề, mở bài, kết bài, diễn đạt.. ngay từ lớp 10

  + Dạy kiến thức nghị xã hội khoảng  ở lớp 10,11,12 với thời lượng 2tiết/ năm.Vì đây là kiểu bài mà học sinh thể hiện nhận thức và bày tỏ quan điểm đối với cuộc sống.Từ bài học ta có thể phát hiện những  lệch lạc về tư tưởng, về kiến thức để kịp thời điều chỉnh.

  + Dạy phân tích văn bản thơ từ  lớp 10, văn bản văn xuôi từ lớp 11.

- Sử dụng thời gian dạy tự chọn để điều chỉnh, sắp xếp những đơn vị kiến thức quá tải ( như đã phân tích ở phần trên).

+ Những tiết học có nhiều bài lồng ghép ta có thể phân chia bớt nội dung kiến thức sang giờ tự chọn.

+ Những bài có dung lượng kiến thức lớn, ta sử dụng thời gian dạy tự chọn để trình bày rõ hơn.

- Sử dụng thời gian dạy tự chọn để mở rộng kiến thức, nâng cao kỹ năng thực hành của học sinh

+ Kiến thức Ngữ văn trong chương trình THPT do dung lượng của SGK nên không thể trình bày dài. Có rất nhiều kiến thức về tác giả, tác phẩm,những lời bàn luận dánh giá mà SGK không thể hiện được. Những kiến thức ấy cần được cung cấp cho học sinh để bổ trợ cho kiến thức trong bài giảng chính khóa.

+ Học sinh học môn Ngữ văn nhưng kỹ năng giao tiếp ,trình bày vấn đề,phát biểu theo chủ đề… rất hạn chế.Trong phân phối chương trình, học sinh được học về hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, phát biểu theo chủ đề… nhưng không có thời gian và điều kiện thực hành. Bởi vậy học sinh rất lúng túng khi phát biểu ý kiến hay trình bày vấn đề.Những giờ thực hành ngoài việc củng cố lý thuyết còn nâng cao sự chủ động, tự tin của học sinh.

+ Học sinh học môn Ngữ văn nhưng việc ứng dụng môn học vào thực tế là rấ khó khăn. Có những học sinh khối 12 viết một lá đơn xin nghỉ học sai cả lỗi hành văn lẫn cấu trúc..Bởi vậy giờ tự chọn nên dành thời gian để học sinh viết và trình bày các văn bản nhật dụng, luyện viết bản tin, viết quảng cáo, viết thuyết minh…như vậy môn Ngữ văn sẽ mang tính thiết thực và học sinh sẽ thích thú hơn

          3.6. Đề xuất với cơ quan quản lý cấp trên,với cơ quan chuyên môn để phát huy ưu điểm của chương trình Ngữ văn THPT, khắc phục những hạn chế. Hướng tới mục đích nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy và học văn trong nhà trường phổ thông.

 II. Về thực trạng dạy – học Ngữ văn trong trường THPT hiện nay

1. Thực trạng dạy môn Ngữ văn hiện nay:

          Hiện nay, môn Ngữ văn là một bộ môn đang gây ra nhiều sự mất hứng thú cho học sinh THPT. Xu hướng của học sinh trong thời đại mở cửa là thường chọn những môn học  Khoa học tự nhiên, số lượng học sinh học theo khối A, B hay D ngày càng nhiều. Có những trường THPT không có lớp dành cho khối C khi sắp xếp theo đăng kí của học sinh. Vậy vấn đề trên xuất phát từ đâu, trước tiên, cần tìm hiểu việc DẠY của giáo viên Ngữ văn hiện nay như thế nào?

          Nhìn vào thực tế các trường THPT có thể thấy, việc giảng dạy hiện nay ở bộ môn Ngữ văn còn nhiều vấn đề cần phải chú ý và xem xét:

          - Trước tiên, có thể khẳng định bộ môn Ngữ văn là một bộ môn khó dạy, đòi hỏi người dạy không chỉ có kiến thức chuyên môn vững vàng mà hơn thế còn cần phải có năng khiếu, năng lực sư phạm, có kĩ năng truyền đạt để giờ Ngữ văn không  nhàm chán mà hấp dẫn và lôi cuốn được học sinh. Chính điều đó cũng đã đặt ra thử thách khá lớn cho những giáo viên dạy Ngữ văn. Và thực tế thì tình hình dạy Ngữ văn hiện nay ra sao? Có thể thấy, không phải ai cũng có thể tạo ra một giờ Ngữ văn thực sự lôi cuốn, ngược lại có rất nhiều giáo viên dạy với một giờ học trầm buồn, học sinh mệt mỏi và không hứng thú, không phát huy được tính tích cực của học sinh. Chưa biết cách tạo một giờ dạy lôi cuốn và dễ hiểu có lẽ là nhược điểm lớn nhất của giáo viên Ngữ văn hiện nay.

          - Nhiều giáo viên khi giảng dạy và nhận thấy lớp học trầm, không sôi nổi, nhưng vẫn không khắc phục, tạo ra tình trạng uể oải kéo dài và dần dần hình thành tâm lí chán học ở học sinh.

          - Giáo viên Ngữ văn thường chưa tạo được sự yêu quý môn học cho học sinh, chưa tạo được niềm tin cho các em. Hơn nữa, hiện nay giáo viên vẫn duy trì lối dạy học truyền thống. Khác với các giờ giảng của các môn học khác, giờ giảng văn là giờ học đem đến cho học sinh những xúc cảm, rung động về một tác phẩm văn chương. Vì vậy, việc giảng dạy môn Ngữ văn có những đặc trưng riêng biệt. Nhưng hiện nay, phần lớn giáo viên vẫn truyền thụ tri thức cho học sinh theo quan hệ một chiều.

            - Có nhiều giáo viên hiện nay cho rằng mình  hơn hẳn học sinh về kiến thức Ngữ văn, nên trong khi giảng dạy, họ cứ việc “áp đặt” những kiến thức và sự cảm thụ văn chương của mình cho học sinh chép vào vở, trong tiết kiểm tra, học sinh cứ việc chép nguyên si lời của thầy giảng vào bài. Thầy cô chấm bài và cho học sinh điểm khá, giỏi… Đó là mình chấm văn mình chứ không phải chấm văn học trò, vì học trò lúc đó chỉ đóng vai trò là những chiếc máy sao chép lại mà thôi.

          - Nhiều giáo viên ép buộc học sinh học thuộc lòng từng chi tiết trong bài dạy của mình, chính điều đó đã gây nhàm chán và không tạo được hứng thú cũng như sức sáng tạo cho học sinh.

          - Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn có rất nhiều giáo viên cố gắng nỗ lực trong việc đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh, nhưng chưa thực sự đạt hiệu quả cao.

2. Thực trạng học môn Ngữ văn trong trường phổ thông hiện nay: Hiện nay, học Ngữ văn đang là vấn đề khá nóng trong các chương trình bàn luận về thực trạng các bộ môn học trong trường phổ thông. Nhìn vào thực tế, thấy rất rõ, hiện nay học sinh đang dần không thích bộ môn này, học với một tâm lí ép buộc hoặc học cho có, học cho xong miễn cưỡng.

          Học THPT là giai đoạn học sinh đã chọn khối học và thi cho mình, với xu hướng hầu hết chọn các khối Khoa học tự nhiên, nên một lẽ dễ hiểu là học sinh dần không chú trọng vào học Ngữ văn. Nhiều học sinh có tâm lí coi thường bộ môn này. Trong các giờ học, học sinh thường uể oải nặng nề, không hứng thú. Tình trạng buồn ngủ ở học sinh khi học Ngữ văn có lẽ không còn là vấn đề lạ lẫm. Thay bằng việc đọc văn bản, đọc tác phẩm, học sinh hiện nay thường tìm đến những sách kiếm hiệp, truyện tranh, báo chí học trò… nhằm mục đích giải trí. Hơn nữa, lượng học sinh chủ động chăm chỉ với môn học này ngày càng ít đi.

          Trong các giờ Ngữ văn, thường thấy tình trạng học sinh không học bài cũ, không thuộc văn bản, không phân tích được vấn đề giáo viên kiểm tra. Đặc biệt, trong các giờ kiểm tra viết, học sinh thường lạm dụng sách để học tốt, các loại sách văn mẫu…tràn lan. Hiện tượng cóp chép từ trong sách văn mẫu đã hình thành ở học sinh thói lười tư duy và dần sinh ra thụ động, phụ thuộc, từ đó ngày càng chán nản với môn học này.

3. Nguyên nhân của những thực trạng trên:

          - Một số giáo viên chưa nhận thức được tầm quan trọng của cách dạy mới, phát huy tính tích cực của học sinh, cũng có những giáo viên chưa được tập huấn kĩ càng về việc đổi mới hoặc thấy việc đổi mới trong giảng dạy bộ môn Văn là không cần thiết.

          - Giáo viên chưa thực sự chịu khó học hỏi và tìm tòi những cách giảng dạy mới có hiệu quả, vẫn duy trì lối dạy truyền thống.

          - Cơ sở vật chất phục vụ học tập còn hạn chế, nhất là các phương tiện máy hỗ trợ giảng dạy và các hình ảnh trực quan còn thiếu rất nhiều.

          - Nội dung sách giáo khoa hiện nay cũng còn nhiều bất cập, gây khó khăn cho giáo viên trong việc soạn giảng và liên kết các bài học.

          - Việc ra đề thi còn nhiều hạn chế và bất cập.

          - Về phía học sinh, chưa nhận thức rõ tầm quan trọng của môn học này và hơn nữa không chọn bộ môn Ngữ văn trong khối thi, điều này cũng ảnh hưởng khá lớn đến việc hứng thú với môn học. Hơn nữa, tâm lí thụ động, lười học đã khiến học sinh càng ngày càng xa rời với môn học đầy tính giáo dục và nhân văn này. 

4. Đề xuất đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn

          - Khoảng một thập niên trở lại đây, việc đổi mới cách dạy học Ngữ văn đã được tiến hành rộng khắp trong cả nước. Vai trò và mối quan hệ giữa người dạy và người học đã khác trước. Sự chủ động, tích cực của học sinh trong giờ học được đề cao. Các phương tiện dạy học phong phú hơn. Tuy nhiên, hiệu quả chưa được như mong muốn.

          - Trong bài báo đăng trên Văn nghệ số 10, 7 - 3 - 2009, GS Trần Đình Sử nêu thẳng vấn đề: muốn đổi mới căn bản phương pháp dạy học Ngữ văn, không có con đường nào khác là phải trở về với văn bản văn học. Tư tưởng ấy được hình thành từ nhận thức của ông về thực trạng dạy học Ngữ văn trong nhà trường bấy lâu nay: ấy là kiểu dạy học lấy thế bản thay cho văn bản. Thế bản mà Trần Đình Sử nói đến ở đây gồm bài soạn của thầy và các tài liệu tham khảo đủ loại, đủ kiểu, chất lượng rất khác nhau, đầy rẫy trên thị trường sách hiện nay. Theo Trần Đình Sử, chính sự lệ thuộc quá mức của học sinh vào các thế bản đã đẩy các em vào tình trạng thụ động, luôn luôn chờ đợi những kết quả mà người khác cảm nghĩ hộ, mất khả năng tự mình thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm văn chương để nói lên những cảm nhận, những rung động của chính bộ óc, con tim của mình bằng chính lời lẽ của mình. Mọi sự bất ổn của tình trạng dạy học Ngữ văn bấy lâu nay có nguồn gốc từ đó.

          - Theo tôi, yếu tố đầu tiên giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn cần phải làm, đó là linh hoạt hơn trong các giờ giảng, học hỏi tìm tòi để có cách dạy lôi cuốn học sinh. Giáo viên phải tạo được không khí giờ học sôi nổi để học sinh không chỉ được bồi dưỡng cảm xúc mà còn có hứng thú khi tiếp cận một vấn đề văn học. Giáo viên luôn phải rút ra kinh nghiệm sau mỗi


Tác giả: Lê Tùng Thanh -*-

[1] 2 3 4 >>

Thông báo